Một khối kim loại có thể nóng lên khi chịu lực, rồi lạnh đi khi được nhả lực. Nếu phối hợp đúng với các bước trao đổi nhiệt, ta có thể dùng nó để làm lạnh. Công nghệ này được gọi là elastocaloric, hay làm lạnh nhờ hiệu ứng đàn hồi nhiệt.
Điểm đáng chú ý trong nghiên cứu mới của HKUST là độ bền: nhóm báo cáo một thiết bị có công suất lạnh 400 W, duy trì hiệu năng qua một triệu chu kỳ thử nghiệm. Công trình được công bố trực tuyến trên Joule ngày 17/8/2026. Nghiên cứu gốc
![[IMG]](https://tinhte.org/img.php?url=https%3A%2F%2Fphoto2.tinhte.vn%2Fdata%2Fattachment-files%2F2026%2F10%2F9106944_01-chu-trinh-elastocaloric.png)
Sơ đồ giản lược do Dot của VMN thực hiện theo nguyên lý elastocaloric, không mô tả cấu tạo chính xác của mẫu HKUST.
Với hợp kim nhớ hình phù hợp, lực cơ học có thể làm cấu trúc tinh thể chuyển từ pha austenite sang martensite và giải phóng nhiệt. Khi bỏ lực, quá trình đảo chiều hấp thụ nhiệt. Hợp kim vẫn ở thể rắn trong cả hai pha.
Chu trình có thể hình dung qua bốn bước:
Điểm đáng chú ý trong nghiên cứu mới của HKUST là độ bền: nhóm báo cáo một thiết bị có công suất lạnh 400 W, duy trì hiệu năng qua một triệu chu kỳ thử nghiệm. Công trình được công bố trực tuyến trên Joule ngày 17/8/2026. Nghiên cứu gốc
Vì sao nén kim loại lại có thể làm lạnh?
![[IMG]](https://tinhte.org/img.php?url=https%3A%2F%2Fphoto2.tinhte.vn%2Fdata%2Fattachment-files%2F2026%2F10%2F9106944_01-chu-trinh-elastocaloric.png)
Sơ đồ giản lược do Dot của VMN thực hiện theo nguyên lý elastocaloric, không mô tả cấu tạo chính xác của mẫu HKUST.
Với hợp kim nhớ hình phù hợp, lực cơ học có thể làm cấu trúc tinh thể chuyển từ pha austenite sang martensite và giải phóng nhiệt. Khi bỏ lực, quá trình đảo chiều hấp thụ nhiệt. Hợp kim vẫn ở thể rắn trong cả hai pha.
Chu trình có thể hình dung qua bốn bước:
- Nén nhanh để hợp kim chuyển pha và nóng lên
- Giữ trạng thái chịu lực, đưa nhiệt sang phía nóng
- Nhả lực để hợp kim chuyển pha ngược và lạnh đi
- Cho hợp kim nhận nhiệt từ phía cần làm lạnh, rồi lặp lại
HKUST đã thay đổi điều gì?
Nhóm dùng hợp kim TiNiCuCo gồm titan, niken, đồng và coban, kết hợp cấu trúc cánh hai lớp. Mục tiêu là giữ khả năng chuyển pha ổn định, trao đổi nhiệt tốt và chống mất ổn định khi chịu nén.Bài Joule cũng báo cáo chênh nhiệt ở cấp thiết bị đạt 41 K. Joule
Điểm dễ bị bỏ qua là kim loại chưa gãy vẫn có thể làm lạnh kém dần. Một nghiên cứu khác trong năm 2026 ghi nhận bộ tái sinh dùng NiTi còn hoạt động sau một triệu chu kỳ, nhưng công suất lạnh giảm từ 94,6 W xuống 66,2 W. Vì vậy, theo dõi độ bền chức năng quan trọng bên cạnh việc kiểm tra hư hỏng cơ học. Đây là một mẫu thử khác, không phải phép đối chứng trực tiếp với máy HKUST. Nghiên cứu về bộ tái sinh NiTi
Một triệu chu kỳ nói lên được bao nhiêu?
![[IMG]](https://tinhte.org/img.php?url=https%3A%2F%2Fphoto2.tinhte.vn%2Fdata%2Fattachment-files%2F2026%2F10%2F9106945_02-ba-cap-do-kiem-chung.png)
Sơ đồ do Dot của VMN thực hiện từ thông tin HKUST. Các phép thử có đối tượng và điều kiện khác nhau, không thể thay thế cho nhau.
Thông báo ngày 18/9 của HKUST phân biệt ba mốc:
- Thiết bị hoàn chỉnh: một triệu chu kỳ vận hành với hiệu năng ổn định
- Cấu trúc môi chất rắn: hơn 10 triệu chu kỳ nén
- Vật liệu TiNiCuCo: 100 triệu chu kỳ thử mỏi tăng tốc, không ghi nhận suy giảm chức năng
Nhận định vật liệu có thể hoạt động hơn một thập kỷ là dự tính của nhóm nghiên cứu. Độ bền cả hệ thống còn cần xét các bộ phận khác và điều kiện sử dụng thực tế.
Đọc đúng 400 W và 41 K
400 W công suất lạnh cho biết tốc độ lấy nhiệt khỏi phía lạnh. Còn chênh nhiệt 41 K tương đương chênh lệch 41 °C; nó không có nghĩa nhiệt độ đầu ra là 41 °C hay −41 °C.Hai con số cũng chưa đủ để khẳng định máy tạo được 400 W tại chênh nhiệt 41 K. Muốn kết luận cần bản đồ vận hành thể hiện công suất theo chênh nhiệt và điều kiện đo.
Ví dụ, một công trình năm 2025 đạt 1.284 W công suất lạnh ở phía chất lỏng, nhưng ghi rõ phép đo tại chênh nhiệt bằng 0. Điều kiện đó có ích để đánh giá khả năng chuyển nhiệt, song chưa thể dùng ngay làm công suất danh định của máy lạnh trong phòng. Nghiên cứu đạt quy mô kilowatt
Tiết kiệm điện còn là một bài toán riêng
Để đánh giá một máy chạy điện, cần biết cả công suất lạnh hữu ích lẫn tổng điện đầu vào. Hệ số COP được tính bằng công suất lạnh chia cho công suất điện trong cùng điều kiện vận hành.Một ví dụ giả định: lấy được 400 W nhiệt và tiêu thụ tổng cộng 100 W điện thì COP bằng 4. Con số 100 W này chỉ dùng để minh họa phép tính, không phải số đo của mẫu HKUST. Khi so sánh hai máy, nhiệt độ hai phía và tải lạnh cũng phải tương đương. Cơ sở đánh giá hiệu quả làm lạnh
Quảng cáo
Hệ truyền động cũng đáng quan tâm. Nghiên cứu tại Đại học Ljubljana đã thử cơ cấu cam thu hồi khoảng 70% công cơ học với tải giả lập bằng cụm lò xo đĩa. Đây là kết quả ở ranh giới trục cơ khí, chưa tính hiệu suất động cơ và không thể hiểu thành giảm 70% hóa đơn điện. Nghiên cứu thu hồi công
Khi nào công nghệ này mới gần với đồ gia dụng?
Từ góc độ thiết kế, vật liệu tốt phải đi cùng cơ cấu tạo lực đủ gọn, trao đổi nhiệt nhanh và thu hồi công hiệu quả. Các yêu cầu này có thể xung đột: tăng diện tích tiếp xúc giúp truyền nhiệt, nhưng kết cấu vẫn phải chịu được lực nén lặp lại; bộ truyền động còn mang theo khối lượng, ma sát và chi phí. Phân tích những trở ngại thực dụngCác dữ liệu tiếp theo đáng chờ là COP toàn hệ thống tại tải hữu ích, độ bền dài hạn của cả máy, độ ồn, kích thước và giá thành. HKUST cho biết đang phát triển máy điều hòa dựa trên hướng này. Thông tin từ nhóm nghiên cứu
Kết quả mới đáng quan tâm vì cho thấy hướng cải thiện độ bền của một bộ phận làm lạnh phải chuyển pha liên tục. Khoảng cách đến sản phẩm gia dụng sẽ rõ hơn khi hiệu quả năng lượng, độ bền và chi phí được chứng minh cùng nhau, trên một hệ thống hoàn chỉnh.
Dot của VMN
Bài viết tổng hợp và giải thích từ các nguồn nghiên cứu đã dẫn, không dịch nguyên văn một bài báo. Hai sơ đồ được thực hiện riêng cho bài.